Trang chủ » Y học thường thức - SK&BL Trẻ em » Y học thường thức » Bệnh do virus Nipah: bình tĩnh, hiểu biết để phòng bệnh hiệu quả

Bệnh do virus Nipah: bình tĩnh, hiểu biết để phòng bệnh hiệu quả

Trong bối cảnh virus Nipah tại bang Tây Bengal, Ấn Độ có dấu hiệu bùng phát với ít nhất 2 ca nhiễm (có thông tin khác là 5 ca) và gần 100 người phải cách ly. Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh, tuy nhiên thông tin về dịch bệnh đã được cộng đồng hết sức quan tâm và gây không ít lo lắng. Các biện pháp chủ động kiểm soát dịch bệnh, như: sàng lọc nguy cơ, kiểm soát y tế biên giới, cửa khẩu,… cũng như các khuyến cáo phòng bệnh đã được Bộ Y tế và các cơ quan liên quan triển khai. 

Bài viết sau đây hy vọng sẽ cung cấp thêm thông tin để cộng đồng nêu cao cảnh giác và chủ động phòng ngừa. Tuy nhiên, mọi người cần bình tĩnh, không quá hoang mang và chủ động áp dụng các giải pháp phòng bệnh đúng cách để bảo vệ sức khỏe và sẵn sàng ứng phó hiệu quả với dịch bệnh.

Virus Nipah có gì đặc biệt?

Bệnh do virus Nipah được mô tả lần đầu tiên vào năm 1998, virus gây bệnh được phân lập vào năm 1999 và được được đặt theo tên của một ngôi làng ở Malaysia (làng Sungai Nipah, bang Negeri Sembilan, phía Nam Kuala Lumpur). Nhóm ca bệnh đầu tiên được cho là có liên quan đến những người làm nghề chăn nuôi lợn ở vùng này. Mặc dù đã được phát hiện hơn 25 năm, nhưng đến nay bệnh do virus Nipah vẫn được gọi là bệnh truyền nhiễm mới nổi (emerging infectious disease).

Virus Nipah thuộc họ Paramyxoviridae, có cấu trúc là RNA sợi đơn, chiều âm (-ssRNA) và có vỏ bọc lipid. Cùng họ này còn có các virus là tác nhân “quen thuộc” như sởi, quai bị, cúm, virus hợp bào hô hấp (RSV), hay Metapneumovirus (HMPV),… Sở dĩ virus Nipah được cộng đồng và các nhà chuyên môn quan tâm và quan ngại vì nó gây nên tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở phổi, thần kinh trung ương, cũng như toàn thân và có tỷ lệ tử vong cực cao (40-75%).

Tuy nhiên cần lưu ý rằng, do có cấu trúc RNA sợi âm (đối mã với RNA sợi dương), nên virus này phải mang sẵn enzyme RNA-dependent RNA polymerase để sao chép thành sợi dương trước khi có thể tổng hợp protein (RNA sợi dương mới có chức năng, “giải mã” tổng hợp protein). Quá trình này thường làm tốc độ nhân lên của chúng chậm hơn so với các virus RNA sợi dương. Đặc biệt, vỏ bọc lipid giúp virus dễ dàng hòa màng tế bào thông qua Protein G (có chức năng gắn với thụ thể của tế bào) và Protein F (có chức năng hòa màng tế bào) để xâm nhập vào tế bào vật chủ và gây bệnh. Nhưng cũng chính đặc điểm này khiến chúng dễ bị bất hoạt bởi các chất khử khuẩn thông thường. Các thụ thể ở tế bào vật chủ mà virus Nipah “ưa thích” gắn kết là các thụ thể có ở biểu mô đường hô hấp, hệ thần kinh trung ương và biểu mô mạch máu. Do vậy, bệnh thường xảy ra ở hệ hô hấp và hệ thần kinh trung ương, nhưng cũng có thể là tình trạng nhiễm trùng toàn thân.

Mặc dù bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, tuy nhiên ghi nhận từ khi bệnh được phát hiện chỉ xuất hiện rải rác ở phạm vi nhỏ tại một số quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á, chưa từng ghi nhận các ổ dịch lớn.

Người lành có thể mắc bệnh như thế nào?

Các loài dơi ăn quả được cho là nguồn nhiễm chứa tác nhân gây bệnh trong tự nhiên. Ngoài ra, lợn đóng vai trò là vật chủ trung gian quan trọng. Người mắc bệnh virus Nipah chính là nguồn nhiễm quan trọng. Người lành mắc bệnh chủ yếu do lây từ người bệnh và động vật có mầm bệnh như đã kể trên. Virus Nipah có trong dịch tiết hô hấp của người bệnh và động vật nhiễm/mang virus được thải ra ngoài qua các giọt bắn và giọt khí dung (giọt có kích thước nhỏ, có thể lơ lửng trong không khí, đặc biệt ở các không gian hẹp, kín, bí). Ngoài ra, với tính chất của các yếu tố truyền nhiễm như ở trên, mầm bệnh còn được mô tả có trong vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm dịch tiết, dịch bài tiết của người bệnh hoặc động vật có mang virus, như các loại quả mà con dơi có mang mầm bệnh ăn phải. Từ dơi mang mầm bệnh có thể lây trực tiếp sang người hoặc thông qua động vật trung gian như lợn, sau đó lây sang người. Ngoài môi trường virus có thể tồn tại từ vài giờ đến nhiều ngày tùy điều kiện nhiệt độ và độ ẩm.

Cộng đồng sống trong khu vực có dơi ăn quả, người chăn nuôi, người làm nghề giết mổ động vật, nhân viên y tế, người chăm sóc người bệnh là các đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh.

Khi nhiễm virus Nipah, người bệnh có thể có những biểu hiện gì?

Sau khi virus xâm nhập cơ thể, thời gian ủ bệnh xảy ra trong khoảng 4 –14 ngày (có tài liệu mô tả đến 45 ngày). Người nhiễm virus có thể có các triệu chứng ban đầu giống mắc cúm: sốt, đau đầu, đau cơ, đau họng, nôn, chóng mặt; giai đoạn nặng có các biểu hiện của nhiễm trùng thần kinh trung ương cấp tính như rối loạn ý thức, co giật, hôn mê (những biểu hiện này dễ nhầm với viêm não, làm chậm trễ việc đi tìm căn nguyên, tăng nguy cơ lây nhiễm); người bệnh có thể kèm theo khó thở, suy hô hấp. Khi đã có biến chứng, bệnh thường tiến triển rất nhanh và dẫn đến tử vong.

Dự phòng nhiễm virus Nipah?

Bệnh do virus Nipah hiện tại chưa có vắc xin để phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các biện pháp dự phòng chủ động, thường xuyên và nâng cao cảnh giác vẫn là quan trọng nhất. Đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh. Người dân cần thường xuyên cập nhật thông tin về bệnh dịch từ các nguồn tin chính thống của Nhà nước và các cơ quan y tế.

Mọi người hạn chế đi đến các khu vực đã xuất hiện ca bệnh. Người trở về từ các vùng đang có ca bệnh phải thông báo cho cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn theo dõi; hoặc nếu thấy các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo cho cơ quan y tế để được tư vấn, hỗ trợ. Trong vùng có nguy cơ, không tiếp xúc với dơi hoặc động vật ốm/chết. Không nên ăn/uống nước ép từ trái cây có dấu hiệu bị động vật cắn, gặm. Luôn luôn rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, nhất là sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật, đặc biệt là lợn, dơi. Thực hiện “ăn chín, uống sôi”, khi ăn trái cây cần phải rửa sạch, gọt vỏ.

Người lao động làm việc trong cơ sở y tế, cơ sở chăm sóc người bệnh cần nâng cao cảnh giác với người có yếu tố dịch tễ và triệu chứng nghi ngờ. Tăng cường tuân thủ “Phòng ngừa chuẩn” và dự phòng “lây truyền qua giọt bắn”, “lây truyền qua không khí”; quản lý ca bệnh, ca phơi nhiễm của các bệnh truyền nhiễm lây qua đường hô hấp; sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân đúng chỉ định và đúng cách; thường xuyên vệ sinh môi trường bề mặt và đảm bảo thông khí tại buồng bệnh, nơi làm việc.

TS.BS. Lê Kiến Ngãi
Trưởng Khoa Dự phòng và Kiểm soát nhiễm khuẩn

Chuyên mục: Tin Tiêu Điểm, Y học thường thức, Y học thường thức - SK&BL Trẻ em

Bài viết liên quan

Thời gian làm việc

  • Hành chính: 7h00 - 16h30 (thứ 2 - 6)
  • Khám & Cấp cứu: 24/24

BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
ĐI ĐẦU & DẪN ĐẦU

  • Đội ngũ giáo sư, chuyên gia số 1 trong ngành nhi khoa Việt Nam
  • Cơ sở vật chất, thiết bị y tế hiện đại bậc nhất
  • Các công trình nghiên cứu y khoa dẫn đầu ngành
  • Áp dụng Bảo hiểm y tế, bảo hiểm bảo lãnh đầy đủ
  • Chi phí khám chữa bệnh hợp lý nhất
  • Chăm sóc chu đáo, toàn diện cho trẻ em
Thông tin hữu ích khác