Vừa qua, Bệnh viện Nhi Trung ương đã can thiệp nút mạch thành công cho hai bệnh nhi mắc dị dạng mạch máu não và tủy sống phức tạp. Đây là hai trường hợp đầu tiên tại Bệnh viện được can thiệp mạch máu não và tủy sống dưới sự phối hợp theo dõi điện sinh lý thần kinh (Intraoperative Neurophysiological Monitoring - IONM). Việc kết hợp hình ảnh mạch máu và thông tin về chức năng thần kinh giúp ê-kíp có thêm cơ sở lựa chọn chiến lược nút mạch phù hợp, xử lý tổn thương, đồng thời bảo tồn tối đa các chức năng thần kinh quan trọng cho trẻ.
Từ những bước chân đi nhón đến tổn thương tủy phức tạp
Từng là một bé trai hoàn toàn khỏe mạnh, khoảng 7 tháng trước, bé B.M (8 tuổi) bắt đầu có biểu hiện nhón nhẹ một chân khi đi, đồng thời xuất hiện tiểu khó. Tình trạng bất thường ngày càng rõ, sức cơ giảm dần từ một chân sang cả hai chân, có thời điểm trẻ đã không thể tự đứng lên.
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, kết quả thăm khám, chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) cho thấy trẻ có dị dạng mạch máu tủy sống kéo dài từ D8 đến D12, gây phù tủy, ảnh hưởng đến vận động, cảm giác hai chi dưới và chức năng cơ tròn (liên quan đến chức năng đại tiện và tiểu tiện).

Hình ảnh phim chụp cộng hưởng từ của bé B.M
Theo BSCKII. Lê Đình Công - Phó Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, Trưởng Đơn vị Điện quang can thiệp, Bệnh viện Nhi Trung ương, đây là tổn thương phức tạp, nếu không được kiểm soát, tình trạng phù tủy có thể tiến triển, khiến chức năng vận động suy giảm, thậm chí trẻ có nguy cơ liệt và ảnh hưởng lâu dài đến chức năng đại tiện, tiểu tiện.
Sau khi đánh giá tổn thương, các bác sĩ quyết định can thiệp nội mạch nút dị dạng thông động - tĩnh mạch tủy. Thông qua hệ thống mạch máu, vi ống thông được đưa đến các nhánh cấp máu cho ổ dị dạng để nút tắc dòng máu bất thường.
Bài toán bảo tồn chức năng giữa những nhánh mạch đan xen
Tuy nhiên, can thiệp đặt ra một bài toán khó. Các nhánh mạch nuôi ổ dị dạng nằm gần và đan xen những nhánh cấp máu cho tủy lành, do đó các bác sĩ phải tính toán nhánh mạch nào có thể nút và phạm vi xử lý đến đâu. Nếu ảnh hưởng đến các nhánh mạch lành, trẻ có nguy cơ yếu liệt nặng hơn hoặc tổn thương chức năng cơ tròn.
BSCKII. Nguyễn Thị Thảo - Phó trưởng khoa, phụ trách khoa Thăm dò chức năng Thần kinh, Trung tâm Thần kinh cho biết, trong trường hợp này, hai phương thức chính được sử dụng là MEP (điện thế gợi vận động) và SSEP (điện thế gợi cảm giác thân thể), giúp theo dõi đường dẫn truyền vận động ở cột trước tủy và đường dẫn truyền cảm giác ở cột sau tủy.
Kết quả, ổ dị dạng mạch máu tủy được bít tắc hoàn toàn, các chức năng thần kinh quan trọng được bảo tồn. Đáng chú ý, tình trạng tiểu khó, một trong những triệu chứng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của trẻ, đã bước đầu cải thiện.
Tiếp cận tổn thương nằm sâu ở vùng chức năng quan trọng trong não
Bệnh nhi thứ hai có tổn thương mạch máu não đặc biệt phức tạp, ổ dị dạng động - tĩnh mạch (AVM) ở vị trí đồi thị - cuống não, chèn ép gây giãn não thất bên và não thất III, nguy cơ vỡ gây xuất huyết não, đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào.
Đặc biệt, các nhánh cấp máu cho ổ dị dạng đan xen rất phức tạp với những nhánh nuôi vùng não lành. Nếu can thiệp đến các nhánh này, trẻ có nguy cơ bị yếu liệt hoặc ảnh hưởng đến chức năng nhai, nuốt. Vì vậy, mục tiêu của ê-kíp không phải cố gắng nút càng nhiều tổn thương càng tốt, mà phải chọn lọc phần cần ưu tiên xử lý và giới hạn can thiệp an toàn, cân bằng giữa hiệu quả điều trị và bảo tồn chức năng thần kinh.
Tổng cộng 64 điện cực kích thích và điện cực ghi tín hiệu được bố trí tại nhiều vị trí từ đầu, mặt, lưỡi đến các chi. Bốn phương pháp được phối hợp gồm điện thế gợi vận động vỏ não - hành não (corticobulbar MEP), điện thế gợi vận động (MEP), điện thế gợi cảm giác thân thể (SSEP) và điện não đồ (EEG), để theo dõi hoạt động điện não và những chức năng thần kinh có nguy cơ bị ảnh hưởng trong suốt quá trình can thiệp.
Sau can thiệp, phần tổn thương giãn lớn có nguy cơ vỡ đã được nút chọn lọc; trẻ tỉnh táo, không ghi nhận thêm thiếu hụt thần kinh mới, các chức năng quan trọng được bảo tồn.

Tình trạng của bệnh nhi được theo dõi sát trong suốt quá trình can thiệp
Phối hợp đa chuyên khoa ngay trong phòng can thiệp
Đằng sau kết quả của hai ca bệnh là sự phối hợp chặt chẽ giữa ba chuyên khoa: điện quang can thiệp, thăm dò chức năng thần kinh và gây mê. Đặc biệt, việc vừa duy trì gây mê, vừa bảo đảm các tín hiệu điện sinh lý thần kinh có thể được ghi nhận trong suốt quá trình can thiệp đặt ra những yêu cầu khác so với gây mê nhi thông thường. Một số thuốc gây mê, an thần có thể ảnh hưởng đến tín hiệu điện sinh lý thần kinh. Vì vậy, việc lựa chọn thuốc và duy trì độ sâu gây mê phải được cân nhắc chặt chẽ.
Từ hai ca bệnh khó đến khả năng mở rộng ứng dụng
Ông Donald Trei King - Giám đốc Trung tâm Điện sinh lý thần kinh - Bệnh viện Nhi Alabama, Hoa Kỳ trực tiếp tham gia hỗ trợ ê-kíp cho biết, theo dõi điện sinh lý thần kinh được sử dụng thường xuyên tại Hoa Kỳ trong các phẫu thuật, thủ thuật liên quan đến não và cột sống nhằm hỗ trợ bảo vệ chức năng thần kinh. Đánh giá về hai trường hợp trên, chuyên gia nhận định:
Theo chuyên gia, thành công bước đầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương mở ra triển vọng tiếp tục ứng dụng kỹ thuật trong những lĩnh vực khác như phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, phẫu thuật thần kinh ngoại biên hay đám rối thần kinh cánh tay.
Kết quả của hai ca bệnh không chỉ mở thêm hướng tiếp cận trong điều trị những tổn thương phức tạp ở trẻ em mà còn tạo tiền đề để Bệnh viện từng bước phát triển các phương pháp hỗ trợ bảo vệ chức năng thần kinh trong những phẫu thuật, thủ thuật phù hợp. Đây cũng là hướng đi nhằm cá thể hóa chiến lược điều trị, xử lý tổn thương đồng thời bảo tồn tối đa các chức năng quan trọng cho trẻ.
Phòng Thông tin điện tử - Viện ĐT&NCSKTE














