1. Giới thiệu
Liệu pháp corticosteroid dạng hít (ICS)/ formoterol là lựa chọn ưu tiên để cắt cơn hen trong điều trị hen phế quản mức độ nhẹ ở thanh thiếu niên và người trường thành. Do các nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc sử dụng ICS–formoterol giúp giảm kể nguy cơ xuất hiện cơn hen nặng so với việc sử dụng thuốc chủ vận thụ thể β2 tác dụng ngắn (SABA). Tuy nhiên, dữ liệu về hiệu quả của việc sử dụng ICS–formoterol ở trẻ em còn rất hạn chế, đặc biệt là nhóm trẻ dưới 12 tuổi. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu so sánh hiệu quả và an toàn của liệu pháp budesonide-formoterol với salbutamol ở trẻ em mắc hen phế quản.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), nhãn mở, pha III, kéo dài 52 tuần, đa trung tâm tại 15 đơn vị thử nghiệm lâm sàng ở New Zealand.
Đối tượng nghiêm cứu:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ em trong độ tuổi 5-15 tuổi được chẩn đoán hen phế quản, đang sử dụng SABA dạng hít đơn trị liệu, và đáp ứng ít nhất một tiêu chí:
(1) sử dụng SABA ≥3 ngày liên tục trong 12 tháng qua;
(2) sử dụng SABA ≥2 ngày/tháng trung bình trong 12 tháng qua;
(3) cơn hen nặng cần nhập khoa cấp cứu trong 12 tháng qua.
Tiêu chí loại trừ:
Trẻ có sử dụng các thuốc hen khác ngoài SABA (như ICS, thuốc chủ vận thụ thể β2 tác dụng dài (LABA), chất đối kháng thụ thể leukotriene, theophylin, thuốc kháng cholinergic,…) trong vòng 6 tháng qua,
sử dụng >6 bình SABA trong 12 tháng qua, nằm viện ≥24 giờ do hen nặng trong 12 tháng qua,
có tiền sử hen nặng gây đe dọa tính mạng cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, phân nhóm song song, với tỷ lệ phân bổ 1:1. Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được phân nhóm bằng phương pháp ngẫu nhiên phân tầng theo: Nhóm tuổi và Tiền sử cơn hen nặng trong 12 tháng.
- Nhóm budesonide-formoterol:Điều trị theo bậc, điều chỉnh sau các đợt hen nặng. Bậc 1 (giảm triệu chứng khi cần):Budesonide 50 µg – formoterol 3 µg, 2 nhát khi cần; Bậc 2 (sau ≥1 đợt hen nặng): Duy trì: 1 nhát/lần, 2 lần/ngày, khi cần: 2 nhát/lần; Bậc 3 (sau ≥2 đợt hen nặng): Duy trì: 2 nhát/lần, 2 lần/ngày, khi cần: 2 nhát/lần
- Nhóm salbutamol:Điều trị theo bậc chuẩn: Bậc 1 (giảm triệu chứng khi cần): Salbutamol 100 µg, 2 nhát khi cần; Bậc 2 (sau ≥1 đợt hen nặng): Thêm fluticasone propionate 50 µg hoặc 100 µg, 1 nhát/lần, 2 lần/ngày; Bậc 3 (sau ≥2 đợt hen nặng): Fluticasone propionate 50 µg – salmeterol 25 µg hoặc fluticasone propionate 100 µg – salmeterol 50 µg, 1 nhát/lần, 2 lần/ngày
Trẻ em đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và không vi phạm tiêu chí loại trừ được theo dõi trong 52 tuần Bệnh nhân được đánh giá tại 5 thời điểm: Tuần 0 (ngẫu nhiên hóa); Tuần 13, 26, 39 và 52. Hình thức thăm khám: Trực tiếp: tuần 0, 26, 52; Từ xa: tuần 13, 39
Tiêu chí nghiên cứu:
Tiêu chí chính: Tần xuất xuất hiện cơn hen kịch phát tính theo năm
Tiêu chí phụ: Tần xuất đợt hen nặng; Tỷ lệ có ≥1 đợt hen; Tỷ lệ có ≥1 đợt hen nặng; Phân bố theo bậc điều trị; Thời gian đến cơn hen đầu tiên; Thời gian đến cơn hen nặng đầu tiên; Số ngày nằm viện do hen; Điểm kiểm soát hen (ACQ-5); FEV₁ (thể tích thở ra gắng sức giây đầu); Biến cố bất lợi
3. Kết quả nghiên cứu
Giai đoạn 28/01/2021 đến 23/06/2023, 360 trẻ thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu và được phân nhóm ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 thành 2 nhóm: nhóm budesonide-formoterol (179 trẻ), nhóm salbutamol (181 trẻ).
Kết quả chính: Tần suất xuất hiện cơn hen cấp thấp hơn ở nhóm sử dụng budesonide-formoterol so với nhóm sử dụng salbutamol. Cụ thể, ghi nhận được 45 đợt cấp trong vòng 177,2 người – năm tham gia (khoảng 0,23 đợt hen cấp/trẻ/năm) ở nhóm budesonide-formoterol, so với 80 đợt hen cấp trong 178,2 người-năm tham gia (khoảng 0,41 đợt hen cấp/trẻ/năm) ở nhóm salbutamol.
Tỷ số nguy cơ tương đối (RR) là 0,55 (KTC 95% 0,35–0,86; p=0,012).

Hình 1. Tỉ lệ tần suất xuất hiện cơn hen
Kết quả phụ:
Tỷ lệ trẻ có ≥1 đợt hen thấp hơn và thời gian xuất hiện cơn hen đầu tiên dài hơn có ý nghĩa thống kê được ghi nhận ở nhóm budesonide-formoterol so với nhóm salbutamol.
Kết quả phân tích dưới nhóm cho thấy hiệu quả của phác đồ budesonide-formoterol lớn hơn được ghi nhận ở nhóm trẻ lớn hơn từ 12-15 tuổi (RR 0.06 so với 0.72 ở 5-11 tuổi), bé nam (RR 0.30 so với 0.94 ở nữ), và FeNO ≥44 ppb (RR 0.24 với 0.80 ở <44 ppb).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê giữa hai nhóm về các tiêu chí khác như tỷ lệ đợt kịch phát hen nặng, tỷ lệ trẻ có ≥1 cơn hen nặng, thời gian xuất hiện cơn hen nặng đầu tiên, chỉ số ACQ-5, FEV1, FeNO, tỷ lệ xuất hiện biến cố bất lợi …
4. Kết luận
Nghiên cứu là thử nghiệm đầu tiên chứng minh hiệu quả của liệu pháp sử dụng budesonide-formoterol vượt trội hơn salbutamol trong việc ngăn ngừa cơn hen cấp ở trẻ em từ 5 đến 15 tuổi mắc hen phế quản mức độ nhẹ. Cụ thể, kết quả nghiên cứu ghi nhận budesonide-formoterol giúp giảm 45% tần xuất xuất hiện cơn hen kịch phát với hồ sơ an toàn tương tự với salbutamol. Kết quả nhất quán với các nghiên cứu tương tự trên người lớn, hiệu quả cao hơn được ghi nhận ở nhóm trẻ lớn, nam và FeNO cao (≥44 ppb). Nghiên cứu ủng hộ cho khuyến cáo thay thế SABA bằng ICS-formoterol ở trẻ em từ 5 tuổi, giúp giảm gánh nặng liên quan các đợt hen cấp và tử vong.
Nguồn: Lancet. 2025; 406:1473-83. DOI: 10.1016/S0140-6736(25)00861-X
Biên tập: ThS. Nguyễn Thị Hoài Thu, DS. Lê Thị Nguyệt Minh
Khoa Dược – Bệnh viện Nhi Trung ương





