
1. Đặt vấn đề
Đái tháo đường type 1 (T1D – Type 1 Diabetes) là bệnh tự miễn với tỷ lệ mắc mới ngày càng gia tăng trên toàn cầu trong những năm gần đây. T1D khởi phát bằng sự xuất hiện của tự kháng thể chống lại các kháng nguyên đảo tụy, trong đó insulin là tự kháng nguyên sớm và quan trọng nhất ở trẻ nhỏ. Liệu pháp tự kháng nguyên đặc hiệu được cho rằng sẽ cải thiện hiệu quả nếu được sử dụng trước khi hình thành tự kháng thể.
Nghiên cứu POInt được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của liệu pháp miễn dịch sử dụng insulin đường uống, liều cao, hàng ngày trong ngăn ngừa sự hình thành của tự kháng thể đảo tụy trong đái tháo đường type 1.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng tại 7 trung tâm ở Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Bỉ và Anh.
Đối tượng nghiên cứu:
– Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ nhỏ từ 4 – 7 tháng tuổi
- Đã bắt đầu ăn dặm
- Có nguy cơ >10% phát triển ≥2 tự kháng thể đảo tụy trước 6 tuổi
- Có HLA DR4-DQ8 và điểm nguy cơ đa gen cao
Tiêu chí nghiên cứu:
– Tiêu chí chính:
- Phát triển ≥2 tự kháng thể đảo tụy (IAA, GADA, IA-2A, ZnT8A)
– Tiêu chí phụ:
- Xuất hiện ≥1 tự kháng thể
- Đái tháo đường lâm sàng (đánh giá bằng xét nghiệm) hoặc rối loạn đường huyết

Hình 1. Thiết kế nghiên cứu
3. Kết quả
Trong thời gian từ 24/7/2017 – 2/2/2021 có 1050 trẻ em thỏa mãn tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu. Sau đó, trẻ được phân ngẫu nhiên thành hai nhóm gồm nhóm đối chứng (n=522) và nhóm sử dụng insulin (n=528). Nhìn chung, trẻ em ở hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể về các đặc điểm chung như tuổi, giới, tiền sử gia đình, kiểu gen, trọng lượng cơ thể.
Tiêu chí chính
Tỷ lệ xuất hiện ≥2 tự kháng thể đảo tụy là 10% ở nhóm insulin và 9% ở nhóm đối chứng (HR 1,12; 0,76 – 1,67; p = 0,57), tỷ lệ này khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm. Kết quả tiêu chí chính được trình bày trong Hình 2.

Hình 2. Biểu đồ Kaplan-Meier về hiệu quả điều trị của insulin uống đối với tiêu chí chính
(≥2 tự kháng thể đảo tụy)
Tiêu chí phụ
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm insulin và nhóm đối chứng về các tiêu chí tỷ lệ mắc đái tháo đường hoặc rối loạn đường huyết hay tỷ lệ xuất hiện >= 1 tự kháng thể.
Trong nhóm trẻ đã ghi nhận xuất hiện ≥2 tự kháng thể đảo tụy, tỷ lệ không mắc T1D trong 3 năm ở nhóm sử dụng insulin cao hơn đáng kể so với nhóm giả dược (63,2% so với 35,5%; p = 0,048).
Các kết quả phân tích theo kiểu gen cho thấy mối liên quan giữa hiệu quả của insulin và gen INS (rs1004446). Cụ thể, ở nhóm mang kiểu gen không nhạy cảm (CT/TT), insulin gây tăng nguy cơ xuất hiện ≥2 tự kháng thể so với giả dược (HR 2,1; KTC 95% 1,08–4,09). Ngược lại, ở nhóm mang kiểu gen nhạy cảm (CC), insulin giúp giảm nguy cơ tiến triển của đái tháo đường hoặc rối loạn đường huyết so với giả dược (HR 0,38; KTC 95% 0,17–0,86).
Về độ an toàn, liệu pháp insulin đường uống cho thấy khả năng dung nạp tốt, không gây khác biệt đáng kể về tỷ lệ xuất hiện các biến cố bất lợi so với nhóm giả dược.
4. Kết luận
Thử nghiệm POInT là nghiên cứu đầu tiên đánh giá việc phòng ngừa tiên phát T1D bằng liệu pháp kháng nguyên đặc hiệu (insulin) trong quần thể trẻ có nguy cơ di truyền liên quan T1D. Kết quả nghiên cứu cho thấy liệu pháp insulin đường uống liều cao không có khả năng ngăn ngừa sự xuất hiện của các tự kháng thể đảo tuy, tuy nhiên có thể là chậm tiến triển của T1D ở trẻ đã khởi phát tự miễn.
Bình luận của người dịch: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, với cỡ mẫu lớn, thiết kế chặt chẽ, người bệnh được theo dõi dài hạn và có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao. Kết quả nghiên cứu không cho thấy sự khác biệt về tiêu chí chính, vì vậy không ủng hộ sử dụng rộng rãi insulin đường uống liều cao để phòng ngừa T1D. Tuy nhiên, nghiên cứu gợi ý tương tác dược lý – di truyền với genotype INS, từ đó mở ra hướng nghiên cứu điều trị cá thể hóa nhằm làm chậm tiến triển bệnh ở nhóm nguy cơ chọn lọc.
Nguồn: The Lancet. 2025. DOI: 10.1016/S0140-6736(25)01726-X
Biên tập: DS. Lê Thị Nguyệt Minh
Khoa Dược – Bệnh viện Nhi Trung ương




