
Vàng da sơ sinh là một tình trạng bệnh lý nguy hiểm nếu bệnh nhân không được điều trị đầy đủ, kịp thời có thể dẫn tới tử vong hay các biến chứng nghiêm trọng (trong đó có bệnh não do bilirubin). Liệu pháp chiếu đèn được áp dụng phổ biến do tính đơn giản, không xâm nhập, chi phí thấp và dễ áp dụng trong thực hành. Tuy nhiên biện pháp này có thể làm tăng thân nhiệt, nổi ban da, tiêu chảy, mất nước và tổn thương võng mạc mắt. Lọc trao đổi huyết tương cũng có thể được sử dụng trong các trường hợp vàng da nặng nhưng cần cân nhắc tới nguy cơ tăng nặng tình trạng bệnh và tử vong, cũng như biến chứng liên quan tới phơi nhiễm chế phẩm máu. Một lựa chọn thay thế giúp phòng ngừa và điều trị vàng da là phenobarbital với tính an toàn và hiệu quả đã được chứng minh trong làm giảm nồng độ bilirubin huyết thanh ở trẻ sơ sinh. Hoạt chất này có một số tác dụng không mong muốn như hạ huyết áp và ức chế hô hấp, từ đó có thể dẫn tới suy giảm nhận thức ở bệnh nhân nhi.
Tổng quan hệ thống và phân tích meta này nhằm đánh giá tác động của phenobarbital để làm giảm nhu cầu áp dụng liệu pháp chiếu đèn, thời gian chiếu đèn, nồng độ đỉnh bilirubin, khả năng cần sử dụng trao đổi huyết tương, và sụt cân.
1. Phương pháp nghiên cứu
1.1. Tiêu chuẩn nghiên cứu
a) Tiêu chuẩn lựa chọn
Lựa chọn các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng dựa trên khung PICO như sau:
– Quần thể nghiên cứu (P): trẻ sơ sinh có tăng bilirubin máu không liên hợp, được đo nồng độ bilirubin huyết thanh toàn phầ
– Can thiệp (I): được điều trị bằng phenobarbital đường uống hoặc đường tĩnh mạch;
– Đối chứng (C): được dùng placebo kết hợp chiếu đèn hoặc chiếu đèn đơn độ
– Kết quả nghiên cứu (O):
- Kết quả chính: thời gian chiếu đèn, nồng độ đỉnh bilirubin, khả năng cần lọc trao đổi huyết tươ
- Kết quả phụ: mức giảm cân nặng và số bệnh nhân cần chiếu đèn.
b) Tiêu chuẩn loại trừ
– Các nghiên cứu quan sát có đối chứng (thuần tập hoặc bệnh chứng) hoặc không có đối chứng (nghiên cứu cắt ngang hoặc chuỗi ca);
– Các bản tóm tắt chưa được công bố;
– Nghiên cứu thứ cấp
1.2. Chiến lược tìm kiếm, lựa chọn nghiên cứu và trích xuất dữ liệu
– Các nghiên cứu được tìm kiếm một cách hệ thống từ 06 nguồn dữ liệu (EMBASE, PubMed, Cochrane Library, Web of Science, Scopus, và CINAHL), cập nhật đến ngày 23/01/2025. Sử dụng các từ khóa: “phenobarbitone”, “jaundice”, “hyperbilirubinemia”, “neonatal”, “newborn”, “neonate”, và “random”.
– Hai thành viên nhóm nghiên cứu độc lập sàng lọc tiêu đề và tóm tắ Các bài báo được chọn tiếp tục được xem xét bản toàn văn và đánh giá tính phù hợp với nghiên cứu.
– Các dữ liệu được thu thập: tác giả chính, năm công bố, cỡ mẫu, quần thể nghiên cứu, liều phenobarbital, thông tin cơ bản (tuổi thai, cân nặng, giới tính) và kết cục.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Đặc điểm các nghiên cứu được lựa chọn
Tổng cộng có 05 nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống này. Bảng 1 dưới đây tổng hợp các dữ liệu được thu thập và đặc điểm của các nghiên cứu được lựa chọn.
Bảng 1: Đặc điểm chính của các nghiên cứu được lựa chọn về tác dụng của phenobarbital so với đối chứng
2.2. Kết quả nghiên cứu chính
a) Nồng độ bilirubin đỉnh (mg/dL)
Có 03 nghiên cứu (n = 451) ghi nhận nồng độ bilirubin đỉnh trong vòng 7 ngày sau sinh. Phân tích theo mô hình ảnh hưởng cố định cho thấy nồng độ đỉnh bilirubin giảm có ý nghĩa ở nhóm dùng phenobarbital so với nhóm đối chứng: Hiệu trung bình là -2,35 (Khoảng tin cậy 95% -2,96, -1,74), p < 0,01, với độ dị biệt thấp (I2 = 0%) (Hình 1).
b) Thời gian chiếu đèn
Có 03 nghiên cứu (n = 414) ghi nhận thời gian chiếu đèn, không ghi nhận cường độ đèn chiếu. Phân tích theo mô hình ảnh hưởng cố định cho thấy thời gian chiếu đèn giảm có ý nghĩa ở nhóm dùng phenobarbital so với đối chứng: Hiệu trung bình là -24,51 (Khoảng tin cậy 95% -34,08, -14,94), p < 0,01, với độ dị biệt thấp (I2 = 4%) (Hình 1).
c) Trao đổi huyết tương
Có 02 nghiên cứu (n = 250) ghi nhận số ca trao đổi huyết tương. Phân tích theo mô hình ảnh hưởng cố định cho thấy nguy cơ lọc trao đổi huyết tương giảm có ý nghĩa ở nhóm dùng phenobarbital so với đối chứng: RR 0,32 (Khoảng tin cậy 95% 0,16, 0,61), p < 0,01, với độ dị biệt thấp (I2 = 0%) (Hình 1).

Hình 1: Biểu đồ forest về tác dụng của phenobarbital
2.3. Kết quả nghiên cứu phụ
a) Sụt cân
Có 02 nghiên cứu (n = 175) ghi nhận mức giảm cân nặng sau can thiệp. Mức độ sụt cân không có khác biệt giữa hai nhóm: Hiệu trung bình là 0,15 (Khoảng tin cậy 95% -0,76, 1,07), p = 0,75, với độ dị biệt trung bình (I2 = 33%) (Hình 2).
b) Số ca có chiếu đèn
Có 04 nghiên cứu (n = 489) ghi nhận số ca có chiếu đèn. Phân tích theo mô hình ảnh hưởng cố định cho thấy nhu cầu chiếu đèn giảm có ý nghĩa ở nhóm dùng phenobarbital so với đối chứng RR 0,75 (Khoảng tin cậy 95% 0,66, 0,85), p < 0,01 với độ dị biệt thấp (I2 = 11%) (Hình 2).

Hình 2: Biểu đồ forest về tác dụng của phenobarbital với trao đổi huyết tương và sụt cân
3. Kết luận
Nghiên cứu đã cho thấy tác dụng có lợi của phenobarbital trong giảm thiểu tình trạng tăng bilirubin máu, nhu cầu điều trị cũng như điều trị các tình trạng bệnh có liên quan, đặc biệt ở các cơ sở có nguồn lực hạn chế không thể triển khai biện pháp chiếu đèn hay lọc trao đổi huyết tương. Tuy nhiên, do chất lượng của các nghiên cứu được lựa chọn cũng như giới hạn về cỡ mẫu, hiệu quả dài hạn của phenobarbital cần được đánh giá thêm.
4. Lời bình của biên tập viên
Vàng da sơ sinh nói riêng và tình trạng vàng da do tăng bilirubin ở bệnh nhân nhi nói chung là tình trạng bệnh không hiếm gặp tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Mặc dù còn một số hạn chế nhưng tổng quan hệ thống và phân tích gộp này cũng giúp khẳng định thêm vai trò có lợi của phenobarbital đối với vàng da ở trẻ sơ sinh, hứa hẹn trở thành một lựa chọn điều trị tiềm năng dành cho các bác sĩ lâm sàng.
Biên tập: DS. Nguyễn Việt Anh
Nguồn: BMC Pediatrics (2025) 25:504. DOI: 10.1186/s12887-025-05844-w





